54. Thí Thực Điệp
Nguyên văn:
施食牒
建設蒙山甘露法施 爲牒請事。兹據
大南國...某寺奉
佛設供賑濟孤魂祈冥福事。今齋主... 顓爲本師和尚、示入涅槃、齋旬福事已周圓、建設蒙山之法施、惟日香焚五分、僧仗六和、仰啟佛恩、俯垂接度、普爲法界三十六部河沙男女孤魂等衆。
痛惟、隻影夜臺、孑身冥路、淤息叢林鬱樹、幽都寂寂幾辰春、徃來淡月凄風、長夜茫茫何日旦、閃若夜螢之自炤、飄然月鵲之無依、山腰水面娑婆、雙脚流離無定影、魚腹鴉膓苦惱、半空黯淡有啼聲、永念沉迷、殊深感慨。今則承三寶力、召到壇前、聽妙法音、受甘露味、俾悟圓明湛寂、眞如妙理之機關、令知清淨虛空、大覺正尊之彼岸、不生不滅、無去無來、長依般若之郷、共證菩提之果。須至牒請者。
右牒請
Phiên âm:
THÍ THỰC ĐIỆP
Kiến Thiết Mông Sơn Cam Lộ Pháp Thí Vị điệp thỉnh sự.
Tư cứ: Đại Nam Quốc … tự phụng Phật thiết cúng Chẩn Tế Cô Hồn kỳ minh phước sự. Kim trai chủ …, chuyên vị Bổn Sư Hòa Thượng, thị nhập Niết Bàn, Trai Tuần phước sự dĩ châu viên, kiến thiết Mông Sơn chi pháp thí; duy nhật hương phần Ngũ Phận, tăng trượng Lục Hòa; ngưỡng khải Phật ân, phủ thùy tiếp độ.
Phổ vị pháp giới Tam Thập Lục Bộ, hà sa nam nữ cô hồn đẳng chúng.
Thống duy: Chích ảnh dạ đài, kiết thân1 minh lộ; du tức tùng lâm uất thọ, u đô2 tịch tịch kỉ thần xuân; vãng lai đạm nguyệt thê phong, trường dạ mang mang hà nhật đán; thiểm nhược dạ huỳnh chi tự chiếu, phiêu nhiên nguyệt thước chi vô y; sơn yêu thủy diện ta bà,3 song cước lưu ly vô định ảnh; ngư phúc nha tràng khổ não, bán không ảm đạm hữu đề thanh; vĩnh niệm trầm mê, thù thâm cảm khái. Kim tắc thừa Tam Bảo lực, triệu đáo đàn tiền; thính diệu pháp âm, thọ Cam Lộ vị; tỷ ngộ viên minh trạm tịch, chơn như diệu lý chi cơ quan; linh tri thanh tịnh hư không, Đại Giác chánh tôn chi bỉ ngạn; bất sanh bất diệt, vô khứ vô lai; trường y Bát Nhã chi hương, cọng chứng Bồ Đề chi quả. Tu chí điệp thỉnh giả.
Hữu Điệp Thỉnh
Dịch nghĩa:
ĐIỆP CÚNG THÍ THỰC
Kiến Thiết Pháp Thí Cam Lộ Mông Sơn Vì điệp thỉnh
Nay căn cứ: Việc Chùa …, nước Đại Nam, thờ Phật, dâng cúng Chẩn Tế Cô Hồn cầu âm phước. Nay trai chủ …, trộm vì Bổn Sư Hòa Thượng, vào cõi Niết Bàn; Trai Tuần việc phước đã chu toàn, kiến lập Mông Sơn ấy pháp thí; hôm nay hương xông Năm Món, tăng nương Sáu Hòa; ngưỡng lạy Phật ơn, cúi thương tiếp độ.
Khắp vì pháp giới Ba Mươi Sáu Bộ, hà sa nam nữ cô hồn các chúng.
Xót nghĩ: Một bóng đêm dài, đơn thân nẻo tối; lang thang núi rừng bụi rậm, U Minh mờ mịt khi nào xuân; đến đi gió thảm trăng mờ, đêm dài mênh mang ngày nào tỏ; leo lét đóm đêm mà tự sáng, bồng bềnh chim khách nương vào đâu; sườn non mặt nước trọi trơ, lê bước lênh đênh không định ảnh; bụng cá ruột quạ khổ não, tầng không ảm đạm tiếng kêu than; mãi bị chìm mê, tận cùng cảm khái.Nay tất nương lực Tam Bảo, mời đến trước đàn; nghe pháp âm mầu, nhận Cam Lộ vị; khiến ngộ viên minh vắng lặng, chơn như lý mầu ấy cửa huyền; giúp biết trong sạch hư không, Đại Giác chí tôn ấy bờ bến; chẳng sanh chẳng diệt, không đến không đi; mãi nương Bát Nhã quê hương, cùng chứng Bồ Đề quả vị. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Thỉnh
Chú thích:
- Kiết thân (孑身): đơn thân, độc thân, thân một mình. Như trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Vãng Sanh Tạp Lưu (往生雜流) thứ 8, Ngô Kiêu Chúc (吳澆燭), có câu: “Kiết thân vô ngẫu, trường trai trú dạ niệm Phật (孑身無偶、長齋晝夜念佛, ông sống một mình không có bạn đời, trường trai đêm ngày niệm Phật).” Hay trong Thành Duy Thức Luận Tục Thuyên (成唯識論俗詮, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 50, No. 820) quyển 1 lại có đoạn: “Duy pháp sư bất khuất, kiết thân độc mại, biến lịch gian tân (唯法師不屈、孑身獨邁、遍歷艱辛, chỉ có pháp sư không chịu khuất phục, một mình đi xa, trải qua gian khổ).”
- U đô (幽都): nơi u tối, có hai nghĩa. (1) Chỉ vùng đất ở phương Bắc. Như trong Hoài Nam Tử (淮南子), phần Tu Vụ Huấn (修務訓), có câu: “Bắc phủ U Đô, Nam đạo Giao Chỉ (北撫幽都、南道交趾, phía Bắc phủ dụ U Đô, phía Nam hướng dẫn Giao Chỉ).” Cao Dụ (高誘, ?-?) chú thích rằng: “Âm khí sở tụ, cố viết u đô, kim Nhạn Môn dĩ Bắc thị (陰氣所聚、故曰幽都、今雁門以北是, nơi âm khí tích tụ, gọi là u đô, nay là khu vực phía Bắc Nhạn Môn).” (2) Chỉ đô phủ dưới cõi âm. Như trong Sở Từ (楚辭), phần Chiêu Hồn (招魂), có câu: “Hồn hề quy lai, quân vô hạ u đô tá (魂兮歸來、君無下此幽都些, hồn chừ về đây, người chẳng xuống chốn u đô sao).” Vương Dật (王逸, ?-?), nhà văn học thời Đông Hán (東漢, 25-220), giải thích rằng: “U đô, địa hạ Hậu Thổ sở trị dã, địa hạ u minh, cố xưng u đô (幽都、地下后土所治也、地下幽冥、故稱幽都, u đô là nơi do Hậu Thổ dưới lòng đất cai trị, là cõi tối tăm dưới long đất, nên gọi là u đô).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 5 lại có câu: “Vật lưu trệ ư U Đô, tức thăng đằng ư Lạc Độ (勿留滯於幽都、卽升騰於樂土, chớ ở lại chốn U Minh, hãy bay lên cõi Cực Lạc).”
- Ta bà (娑婆): có mấy nghĩa. (1) Dáng vẻ cành lá trơ trọi. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu Quỳnh Hoa (后土廟瓊花) của Vương Vũ Xưng (王禹偁, 954-1001) nhà Tống có câu: “Hốt tợ thử thiên thâm giản để, lão tùng kình tuyết bạch ta bà (忽似暑天深澗底、老松擎雪白娑婆, chợt giống mùa hè đáy khe sâu, tùng già vác tuyết trơ trọi trắng).” (2) Thong dong, nhàn rỗi. (3) Âm dịch của Phạn ngữ sahā, còn gọi là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶); ý dịch là nhẫn (忍); nói đủ là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界); ý dịch là nhẫn độ (忍土), nhẫn giới (忍界, cõi chịu đựng), tức chỉ thế giới, cõi đời nầy, thế giới do đức Thích Tôn giáo hóa. Như trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) có đoạn: “Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (聖眾來迎、歸趣淨土、捨娑婆穢質、成極樂淨身, Thánh chúng đến nghinh, quay về Tịnh Độ, bỏ Ta Bà chất nhớp, thành Cực Lạc sạch thân).”